Thuốc tây là gì?


Xây dựng cơ sở vật chất nhà thuốc GPP

Thuốc Tây là gì?

– Để trả lời cho câu hỏi thuốc tây là gì đầu tiên chúng ta phải hiểu thuốc là gì ?. Khái niệm về thuốc đơn giản là dùng để chữa bệnh hay  là phòng ngừa, chăm sóc sức khỏe , tăng cường sức khỏe của bản thân…
Thuốc tây theo định nghĩa là thuốc phòng và chữa bệnh được điều chế và sử dụng theo phương pháp y học hiện  đại của phương tây. Thuốc tây được tạo ra từ phản ứng hóa học là Loại thuốc được sử dụng rộng rãi hiện nay do có hiệu quả cao và nhanh trong chữa trị bệnh. Thuốc tây rất đa dạng về chủng loại thuốc, có thể phân loại dạng thuốc theo thể chất  dùng dạng uống,thuốc ngậm (dưới lưỡi), dùng ngoài da, thuốc tiêm, liệu pháp trong tĩnh mạch, thuốc xổ, thuốc hít, thuốc nhỏ, hoặc theo người dùng dạng thuốc uống (viên nén, viên nang, viên ngậm, viên đặt dưới lưỡi, viên pha thành dung dịch, viên sủi bọt, bột để pha uống, dung dịch, nhũ dịch, hỗn dịch, siro, nhũ tương,…) dạng thuốc tiêm (dung dịch, hỗn dịch, nhũ dịch, bột pha tiêm, dịch truyền) dạng thuốc dùng ngoài (thuốc bôi trên da, thuốc nhỏ lên niêm mạc, nhỏ lên mắt, tai, thuốc súc miệng, thuốc dán lên cơ thể).dạng thuốc đặt vào các hốc tự nhiên trên cơ thể (thuốc đặt hậu môn, thuốc trứng đặt âm đạo,…) Sau khi đưa thuốc vào cơ thể, thuốc sẽ di chuyển vào mạch máu để đến các cơ quan và các mô trong cơ thể. Từ đó thuốc sẽ sản sinh hoặc gây ra các hiệu ứng. Do đó có những loại và đường đi của thuốc sẽ nhằm trúng mục tiêu đích, tức là nó sẽ tiến thẳng tới phần cơ thể bị bệnh.  Đường đi và loại thuốc cũng ảnh hưởng đến sự hoạt động nhanh của thuốc. Tiêm thuốc vào các cơ – chứa đầy các mạch máu – cũng là phương pháp dùng thuốc cực nhanh thẩm thấu vào cơ thể. Nhờ diện tích bề mặt lớn của ruột có rất nhiều các mạch máu, hấp thụ thuốc rất nhanh chóng. Chính vì vậy thuốc tây thường có tác dụng nhanh hơn thuốc đông y.

 

Bạn có hiểu và sử dụng đúng cách thuốc tây lâu nay?

Thuốc tây khá là phổ biến và dễ dàng mua được tại các cửa tiệm,quầy thuốc trên thị trường. Nhưng nhiều người hiện nay đang lạm dụng thuốc và sử dụng thuốc không đúng cách nên không có tác dụng về mặt y khoa hoặc nguy hiểm hơn sẽ nguy hiểm tới tính mạng của người sử dụng. Thuốc tây nếu không sử dụng đúng cách sẽ gây ra “phản ứng phụ ”
Thuốc tây nếu sử dụng lâu dài  sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của người sử dụng đặc biệt là ảnh hưởng tới gan gây tổn thương và các cơ quan khác trên cơ thể.
-Thuốc tây tuy dễ sử dụng nhưng phải theo sự chỉ dẫn của bác sỹ và có đơn. Hãy ngưng sử dụng thuốc ngay lập tức khi có dấu hiệu bất thường sau khi dùng thuốc như mẫn cảm, nổi ban đỏ,sốt,buồn ngủ, khô miệng,buồn nôn,chóng mặt,choáng,nhức đầu, khó thở,suy hô hấp… phải tới ngay cơ sở y tế gần nhất.

Một số bệnh thường gặp và cách chữa.

– Dưới đây mình sẽ hướng dẫn các bạn sử dụng một số loại thuốc thường sử dụng hàng ngày cho các bạn.

1. Cảm cúm : 

 Cảm cúm là một bệnh thông thường rất dễ gặp vào các thời điểm giao mùa, bệnh do virus gây ra và lây qua đường hô hấp. Các triệu chứng của cảm cúm xuất hiện sau 1-3 ngày nhiễm virus bao gồm sốt, đau đầu, ngạt mũi, chảy nước mũi, đau rát họng, đau nhức cơ… Các thuốc cảm cúm hiện rất phổ biến trên thị trường, nhưng chúng chỉ giúp giảm triệu chứng trên người bệnh mà không có tác dụng loại trừ nguyên nhân hay rút ngắn thời gian bệnh.
cần phải kẹp nhiệt kế thường xuyên theo dõi,Thường thì ta dùng thuốc có thành phần:

+ Thuốc hạ sốt, giảm đau : thường được sử dụng là paracetamol. Paracetamol dung nạp tốt và ít gây tác dụng phụ. Tuy nhiên, quá liều paracetamol có thể gây độc cho gan. Buồn nôn, nôn và đau bụng thường xảy ra trong vòng 2-3 giờ sau khi dùng liều độc của thuốc. Hoại tử gan phụ thuộc liều là độc tính cấp nghiêm trọng nhất do quá liều paracetamol và có thể gây tử vong. Do đó, người bệnh cần tuân thủ đúng liều dùng và thời gian dùng thuốc. Đặc biệt phải chú ý liều lượng đối với các đối tượng (trẻ em, người lớn), vì trẻ em liều dùng thường tính theo mg/kg cân nặng của trẻ. Không dùng aspirin cho trẻ em và thanh thiếu niên vì nguy cơ xảy ra hội chứng Reye. Đây là một bệnh hiếm gặp nhưng nguy hiểm liên quan đến não và gan, có thể gây tử vong). Đối với ibupfofen, người lớn có thể dùng dạng viên, trẻ em dùng dạng siro. Tuy nhiên, đối aspirin và ibuprofen không dùng cho người loét dạ dày tá tràng tiến triển, quá mẫn với thuốc, người bệnh bị hen hay bị co thắt phế quản, rối loạn chảy máu, bệnh tim mạch…

Thuốc giảm ho: Codein và dextromethorphan là hai thuốc giảm ho thường được sử dụng. Nếu ho khan ảnh hưởng đến cuộc sống người bệnh như làm mất ngủ có thể dùng thuốc ho dextromethophan. không dùng thuốc cho người quá mẫn cảm với dextromethophan và các thành phần khác của thuốc, người bệnh đang điều trị các thuốc ức chế monoamin oxydase (MAO) vì có thể gây những phản ứng nặng như sốt cao, chóng mặt, tăng huyết áp, chảy máu não, thậm chí tử vong. Không dùng thuốc cho trẻ em dưới 2 tuổi. Không dùng thuốc cho trẻ nhỏ và thận trọng khi dùng thuốc cho người bệnh ho nhiều đờm, người bị hen hoặc suy giảm hô hấp…  Ngoài ra, chống chỉ định codein cho phụ nữ cho con bú khi người mẹ nghi ngờ hoặc được xác định thuộc nhóm người có chuyển hóa codein cực nhanh thành morphin vì có thể gây tử vong cho trẻ bú mẹ do nhiễm độc morphin. Trong quá trình dùng thuốc người bệnh có thể gặp các tác dụng phụ của thuốc như: chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn, nhịp tim nhanh, nổi mày đay, buồn ngủ nhẹ, rối loạn tiêu hóa…ngừng ngay lập tức rồi tới cơ sở y tế gần nhất.

Thuốc chống ngạt mũi:  Ngạt mũi: pseudoephedrin, phenylephrin, naphazolin, xylometazolin, oxymetazolin có dạng uống và dạng nhỏ, xịt mũi. Thuốc gây co mạch dẫn đến làm giảm lưu lượng máu và làm giảm xung huyết.Không dùng thuốc cho người mẫn cảm với thuốc, trẻ sơ sinh. Trẻ em dưới 6 tuổi phải dùng một cách thận trọng, có sự theo dõi của bác sĩ. Không nên dùng thuốc nhiều lần và liên tục để tránh bị sung huyết nặng trở lại. Khi dùng thuốc nhỏ mũi liên tục 3 ngày không đỡ người bệnh cần ngừng thuốc và đi khám bác sĩ.Một số thuốc thông mũi dạng uống (dùng đường toàn thân) cũng có thể được sử dụng như pseudoephedrin. Thuốc làm giảm sung huyết thông qua tác động trên thần kinh giao cảm. Tác dụng chống sung huyết từ từ nhưng kéo dài làm co niêm mạc bị sung huyết ở đường hô hấp trên, giúp đường thở thông thoáng. Không dùng thuốc này cho trẻ em dưới 12 tuổi, người bệnh tim, tăng huyết áp… Cần thận trọng dùng cho người cao tuổi, vì có khả năng xảy ra tác dụng phụ nhiều hơn ở đối tượng này như gây lẫn lộn, ảo giác, co giật, ức chế hệ thần kinh trung ương… Một số tác dụng phụ có thể xảy ra khi dùng thuốc như gây lo lắng, chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn, nổi mày đay…

+Thuốc chống dị ứng: Các thuốc clopheniramin, loratadin, diphenhydramin, triprolidin có tác dụng giảm nhẹ các triệu chứng viêm mũi, nghẹt mũi và ho do dị ứng. Một số trường hợp không được dùng các thuốc nhóm này bao gồm trẻ nhỏ, người bệnh glocom góc đóng, phì đại tuyến tiền liệt, hẹp môn vị,tránh dùng cho người làm các công việc đòi hỏi sự tỉnh táo như lái xe hoặc điều khiển máy móc… Người bệnh cần hạn chế uống rượu khi đang dùng thuốc vì rượu làm tăng tác dụng an thần của thuốc.

* Lưu ý : Không dùng thuốc kháng sinh để uống khi bị cảm cúm, vì kháng sinh không có tác dụng đối với virut tránh gặp tác dụng phụ của thuốc sẽ gây hại cho cơ thể.Các thuốc làm giảm các triệu chứng của cảm cúm trên có thể ở dạng đơn lẻ hoặc dạng phối hợp (nhiều thành phần trong một sản phẩm), nên khi dùng người bệnh cần đọc kỹ thành phần và hướng dẫn sử dụng để tránh dùng quá liều thuốc gây ngộ độc.Ngoài việc dùng các thuốc chữa triệu chứng, người bệnh cần uống nhiều nước và cần nghỉ ngơi.

2. Thủy đậu :  Bệnh thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm, do virus Varicella Zoster gây ra và thường bùng phát thành dịch vào mùa xuân.Virus gây bệnh thủy đậu lây chủ yếu qua đường hô hấp (hoặc không khí), người lành dễ bị nhiễm bệnh nếu hít phải những giọt nước bọt bắn ra khi bệnh nhân thủy đậu ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi. Ngoài ra, khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu, bệnh có thể lây từ bóng nước khi bị vỡ ra, lấy từ vùng da bị tổn thương hoặc lở loét từ người mắc bệnh. Khi khởi phát, người bệnh có thể có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, một số trường hợp nhất là trẻ em có thể không có triệu chứng báo trước.Khi bị thủy đậu, cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những “nốt rạ”. Đây là những nốt tròn nhỏ xuất hiện nhanh trong vòng 12 – 24 giờ, các nốt này sẽ tiến triển thành những mụn nước, bóng nước. Nốt rạ có thể mọc khắp toàn thân hay mọc rải rác trên cơ thể, số lượng trung bình khoảng 100 – 500 nốt. Trong trường hợp bình thường những mụn nước này khô đi, trở thành vảy và tự khỏi hoàn toàn trong 4 – 5 ngày.Ở trẻ em, thủy đậu thường kéo dài khoảng 5 – 10 ngày. Bệnh có thể gây biến chứng nguy hiểm như: viêm màng não, xuất huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nốt rạ, viêm mô tế bào, viêm gan… Một số trường hợp có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời.

Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả.Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ.Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh.  Bổ sung thêm vitamin C, nhỏ mũi 2 lần/ngày cho trẻ. Mặc quần áo vải mềm, thấm hút mồ hôi và đặc biệt chú ý tới việc đảm bảo vệ sinh da cho trẻ để tránh xảy ra biến chứng. Giữ bàn tay cho trẻ thật sạch. Khi cần tiếp xúc người bệnh thủy đậu thì phải đeo khẩu trang.Tránh làm vỡ các nốt thuỷ đậu vì dễ gây bội nhiễm và có thể tạo thành sẹo tồn tại lâu dài.Nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn.Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, cốc, chén, bát, đũa.Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9%.Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm sạch.Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng.

Ngoài ra phải tiêm chủng ngừa bằng vắc-xin. Đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12 tuổi, tiêm 1 liều và liều thứ 2 nên tiêm thêm cách liều thứ nhất 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4 – 6 tuổi để gia tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm việc mắc bệnh thuỷ đậu trở lại mặc dù trước đó đã tiêm phòng. Đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và người lớn, tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần.

3. Hắc lào  Bệnh ngoài da do vi nấm cạn gây nên. Tác nhân gây bệnh thuộc nhóm Dermatophytes và thường gặp nhất là 2 loại: Trychophyton và Epidermophyton.Đây là một bệnh da phổ biến.Thường gặp ở tuổi thanh thiếu niên và trung niên, nam nhiều hơn nữ, ở những người làm việc trong môi trường ẩm ướt, ra mồ hôi nhiều, bơi lội, hay vệ sinh kém.Dấu hiệu nổi bật là ngứa và nổi mẩn đỏ, mụn nước. Ngứa ở vùng có tổn thương da, cả ngày lẫn đêm, tăng nhiều khi ra mồ hôi, trời nóng nực hay về đêm. Nổi mẩn đỏ một vùng có giới hạn rõ, trên bề mặt thường có nổi nhiều mụn nước như phỏng tập trung ở rìa của tổn thương (diễn tiến ly tâm tương tự như đồng tiền (nên còn được gọi là các đồng tiền).Bệnh thường khởi đầu ở một bên bẹn, sau đó có thể lan sang bên kia và ra sau mông. Ngoài ra, bệnh còn có thể có ở các vị trí khác trên cơ thể .Nếu không chữa trị kịp thời bệnh sẽ lan thêm ra những vị trí khác, tăng kích thước, chàm hóa hoặc lây sang người khác do tiếp xúc trực tiếp hay lây qua quần áo. Nếu bôi thuốc không đúng thuốc quá mạnh, bôi dây sang da lành hay da non, thuốc không đúng bệnh… có thể gây ra tình trạng bỏng, chảy nước nhiều, ngứa rát, hợp có thể gây nhiễm trùng,hoại tử….
Nhiều loại thuốc bôi cổ điển đã được pha chế sẵn như Antimycose, BSA, ASA, BSI… có tác dụng tốt nhưng gây lột da nhiều, đau rát .Ngoài ra có thể sử dụng thuốc bôi có dẫn xuất của Imidazole như Econazole, Miconazole, Clotrimazole… bôi 2 lần trong ngày. Đặc biệt ketoconazole chỉ cần bôi 1 lần trong ngày. Những thuốc này có ưu điểm là không có màu, mùi thơm, không gây lột da, viêm tấy, nhưng có thể gây dị ứng nhẹ.Có thể sử dụng thuốc uống sử dụng thuốc uống như Griseofulvin, Ketoconazole (Nizoral), Itraconazole (Sporal), Fluconazole… tuy nhiên cần cẩn thận khi sử dụng thuốc chống nấm toàn thân do thuốc có tác dụng phụ.Phải tới gặp bác sĩ khi cảm thấy không đỡ.

4. Lang ben Bệnh lang beng có lây không?còn có tên bệnh nấm nhiều màu (TINEA versicolor) Là một bệnh nhiễm nấm, không có triệu chứng và kéo dài dai dẳng. Bệnh thường gặp ở độ tuổi từ 20 đến 35 tuổi.Trên bề mặt có vảy mịn, cạo ra như phấn. Bệnh lang ben không ngứa hay ngứa ít thường khi ra nắng hoặc đổ mồ hôi thì ngứa nhiều.
Ta có thể dùng thuốc thoa tại chỗ như Antimycose, BSI, ASA có hiệu quả nhưng đôi khi bệnh nhân khó chịu vì đau rát và tróc da. Để tránh khó chịu và đau rát, có thể thoa kem Nizoral trong 3 tuần thì đạt được kết quả khả quan.
Ngoài ra ta có thê dùng thuốc uống Nizoral (Ketoconazol) viên 200mg, ngày uống 1 viên trong 10 ngày uống sau khi ăn Và thuốc Sporal (Itraconazole) viên 100mg, ngày uống 2 viên trong 7 ngày uống sau khi ăn.

5.chảy máu chân răng Chảy máu chân răng có nguy hiểmChảy máu chân răng là một bệnh lý răng miệng rất phổ biến khiến răng trở nên nhạy cảm và dễ bị chảy máu và trở lên yếu hơn. Bệnh lý này do nhiều nguyên nhân gây nên và gây ra hiện tượng đau nhức kéo dài, đặc biệt nếu không được điều trị kịp thời có thể gây ra những ảnh hưởng rất xấu tới sức khỏe răng miệng.

Chảy máu chân răng có thể do các nguyên nhân sau :

+ Cơ thể bị suy nhược gây nên thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin C
+ Bị chảy máu chân răng do các bệnh lý về nướu, nha chu nguyên nhân thường gặp nhất là do viêm lợi, viêm quanh răng. Đó là tình trạng tổn thương mô nha chu khiến lợi bị viêm, sưng đỏ, sung huyết nên dễ chảy máu khi có tác động như đánh răng. Các vấn đề về lợi, nha chu chủ yếu do những mảng bám cao răng gây ra.
+ Bị bệnh chảy máu chân răng do thay đổi của cơ thể khi mang thai chính là do sự thay đổi lớn về lượng hoocmon trong cơ thể, người mang thai là đối tượng rất dễ mắc các bệnh về răng miệng, trong có tình trạng chảy máu chân răng.
+ Hay chảy máu răng do xuất huyết giảm tiểu cầu xuất huyết giảm tiểu cầu là nguyên nhân hiếm gặp gây nên tình trạng chảy máu chân răng nhưng lại nguy hiểm nếu không được phát triển kịp thời. Người bị bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu khi đánh răng hay bị chảy máu răng và đi kèm với sốt, xuất hiện những mụn nhỏ li ti dưới da mà không biến mất, làm da bị căng ra.

Để giải quyết tình trạng chảy máu chân răng : Nên bổ sung thêm các loại vitamin C, D, A thông qua sử dụng các loại rau củ quả tươi sống như cam, chanh, táo, cà rốt… để nâng cao sức đề kháng cũng như ngăn ngừa tình trạng bị chảy máu răng. Dùng chỉ nha khoa làm sạch mảng bám trên các kẽ răng thay vì dùng tăm xỉa răng. Lấy cao răng có thể loại bỏ tới 90% tình trạng chảy máu chân răng nếu nguyên nhân xuất phát từ viêm nướu hay viêm quanh răng.

Có thể bạn cần: Khóa đào tạo học bán thuốc tây

Mọi chi tiết xin liên hệ:

Hotline: 0946.533.733

 

Các Bình Luận

comments

Call Now Button